Giải mã
Nếu mọi người tan biến, bạn có còn biết mình là ai?
Nếu mọi người tan biến, bạn có còn biết mình là ai?
Thử tưởng tượng một buổi sáng tỉnh dậy, cả thế giới trống không. Điện thoại im. Không một khuôn mặt nào quay sang chờ bạn cười. Không ai để bạn mặc đẹp cho, không ai để bạn buột miệng "ổn cả mà", và không một cặp mắt nào đang lặng lẽ chấm điểm xem hôm nay bạn có đáng được yêu hay chưa.
Câu hỏi không phải là bạn sẽ làm gì với ngần ấy tự do. Câu hỏi rợn hơn nhiều: trong cái yên lặng đặc quánh ấy, bạn có còn sờ thấy một người tên là bạn không, hay bạn chỉ là phần cộng lại của những ánh nhìn vừa biến mất?
Tôi sẽ không trả lời thay bạn. Nhưng tôi muốn cùng bạn cầm đèn, đi xuống cái tầng hầm nơi câu hỏi này thật ra đang sống.
Tấm gương đã dạy bạn là ai
Đứa bé sơ sinh không biết nó là ai. Nó học điều đó từ một nơi rất lạ: khuôn mặt người mẹ. Nó cười, mẹ cười lại; nó khóc, mẹ dịu xuống. Trong mắt mẹ, đứa bé đọc được câu trả lời sớm nhất đời mình: "Con có thật. Con là thế này." Nhà phân tâm học người Anh D.W. Winnicott gọi cơ chế ấy là phản chiếu (mirroring). Tấm gương sống đầu tiên của một con người không phải là kính, mà là một gương mặt khác đang nhìn lại [1].
Nhưng tấm gương ấy đôi khi mờ. Khi người chăm sóc quá mệt, quá đau, quá bận xoa dịu chính nỗi sợ của họ, đứa trẻ buộc phải làm một việc sống còn. Thay vì là chính mình, nó học cách trở thành gương cho người lớn. Nó dò xem mẹ cần gì để bình tĩnh lại, rồi nó hóa thành đúng cái đó. Winnicott đặt tên cho lớp mặt nạ này là False Self, Bản Ngã Giả: một con người ngoan ngoãn, dễ chịu, được dựng vội để che chắn cho True Self mong manh nằm bên dưới [1].
Hãy nghe chính lời ông, đọc thật chậm:
"Kỳ vọng của người khác có thể trở nên áp đặt đến mức chồng lên hoặc mâu thuẫn với cảm giác bản thân nguyên thủy, cái cảm giác gắn với tận gốc rễ của sự tồn tại." — D.W. Winnicott, bác sĩ nhi khoa kiêm nhà phân tâm học, trong Ego Distortion in Terms of True and False Self (1960) [1]
"Tận gốc rễ của sự tồn tại." Winnicott không nói về tính cách. Ông nói về một thứ sâu hơn nhiều: cái cảm giác mình đang thật sự sống, sống từ bên trong da thịt mình ra. Bản Ngã Giả không phải kẻ phản diện. Nó là người lính cứu hỏa từng lao vào dập cơn cháy thời thơ ấu của bạn. Có điều đám cháy đã tắt từ lâu, mà người lính ấy vẫn ngồi lì trong nhà, không chịu bước ra.
Và đây là sự thật mất lòng đầu tiên tôi nợ bạn. Nếu suốt đời bạn chỉ biết mình qua phản ứng của kẻ khác, thì khi họ tan đi, bạn mất luôn tấm gương. Bạn không "biến mất theo họ" vì bạn yếu đuối. Bạn biến mất vì bạn chưa từng một lần được phép tồn tại ở ngoài cái gương đó.
Cái giá êm ái của việc làm vừa lòng
Vậy tại sao ta lại chọn cái gương thay vì chọn chính mình? Bác sĩ Gabor Maté trả lời gọn đến lạnh người. Theo ông, con người mang hai nhu cầu nền: gắn kết, tức được thuộc về và được giữ lại; và tính xác thực, tức được là thật. Trong một gia đình hay một xã hội trục trặc, hai nhu cầu này va vào nhau. Khi đứa trẻ bị ép chọn giữa "được yêu" và "là chính mình", nó gần như luôn chọn được yêu. Với một đứa trẻ, mất gắn kết nghĩa là chết [8].
Maté viết một câu tôi không gỡ ra khỏi đầu được: bản chất của chấn thương là sự ngắt kết nối khỏi chính mình [8]. Cú phản bội đầu tiên không tới từ ai bên ngoài. Nó tới từ chính bạn, lúc ba bốn tuổi, khi bạn lặng lẽ cất True Self vào ngăn tủ để đổi lấy một vòng tay. Đó là một thỏa thuận khôn ngoan của một đứa bé. Nó chỉ hóa thành nhà tù khi bạn lớn lên mà chìa khóa vẫn nằm trong tay người khác.
Carl Rogers, cha đẻ của tâm lý học nhân văn, gọi cơ chế này là conditions of worth, điều kiện được yêu [5]. Bạn học từ rất sớm rằng mình được chấp nhận nếu mình giỏi, nếu mình ngoan, nếu mình không làm phiền ai. Dần dà, bạn xây cả khái niệm về bản thân lên trên những chữ "nếu" đó, thay vì lên cái cảm thấy thật trong lồng ngực. Rogers gọi khoảng hở giữa con người thật và con người được phép tồn tại là incongruence, sự lệch pha. Càng nhiều chữ "nếu", bạn càng trôi xa khỏi mình mà chẳng hay biết.
Cái giá ấy không trừu tượng đâu. Nó có hóa đơn sinh lý hẳn hoi. Maté chỉ ra rằng thiếu xác thực kéo dài để lại dấu vết đo được trên cơ thể: stress mãn tính, rối loạn miễn dịch, bệnh thực thể [8]. Sống cả đời trong vai diễn không phải chuyện "hơi buồn một chút". Nó bào mòn bạn từ trong từng tế bào.
Khi cả một đám đông cùng đeo mặt nạ
Bạn có thể nghĩ đây là chuyện riêng của những ai có tuổi thơ trục trặc. Không hẳn. Erich Fromm, nhà tâm lý học xã hội, chỉ ra rằng đây là căn bệnh của cả một nền văn hóa. Ông gọi nó là automaton conformity, tuân thủ tự động [3].
Theo Fromm, cơ chế nguy hiểm nhất không phải là bạn giả vờ hùa theo đám đông. Mà là bạn hấp thụ kỳ vọng của đám đông một cách vô thức, rồi trải nghiệm chúng như thể đó là mong muốn ruột thịt của mình [3]. Bạn tưởng bạn thích cái đó. Bạn tưởng bạn muốn cái đó. Fromm gọi những thứ hàng nhập khẩu này là pseudo-thoughts và pseudo-feelings: suy nghĩ giả và cảm xúc giả, được xã hội dúi vào tay rồi bạn dán nhãn "của tôi" lên. Cá nhân, theo lời ông, ngừng là chính mình; họ khoác trọn kiểu nhân cách mà khuôn mẫu văn hóa bày sẵn, và thế là trở nên y hệt mọi người, y hệt cái mà người khác chờ đợi ở họ [3].
Đây là chỗ tôi muốn bạn dừng lại lâu hơn một nhịp. Cái mục tiêu bạn đang đuổi bở hơi tai suốt năm nay, nó thật sự là của bạn, hay là một pseudo-feeling rất tinh vi, một thứ bạn thèm muốn chỉ vì muốn được người ta nhìn thấy mình đang thèm muốn nó?
Jean-Paul Sartre gọi đúng hiện tượng đó bằng một cái tên sắc hơn: mauvaise foi, sự lừa dối chính mình. Ông kể về anh hầu bàn diễn vai hầu bàn quá nhập, bước hơi cứng, cử chỉ hơi quá tay, đến mức tự đánh rơi tự do của mình và biến mình thành một thứ đồ vật có chức năng cố định [2]. Ta cũng vậy thôi. Ta diễn vai "đứa con hiếu thảo", vai "người sếp bản lĩnh", vai "người vợ chu toàn" nhuần đến mức quên mất rằng dưới lớp vai ấy vẫn còn một con người được tự do chọn lại từ đầu, ngay lúc này.
Sartre đặt nền cho tất cả bằng một câu sáu chữ làm rung chuyển thế kỷ 20: existence precedes essence, tồn tại có trước bản chất [2]. Con người không sinh ra kèm một bản chất đúc sẵn để đi khám phá như mở một cái hộp. Bạn tự nặn ra mình, mỗi ngày, qua từng lựa chọn. Nghe vừa nhẹ nhõm vừa đáng sợ: chẳng ai viết sẵn bạn là ai cả. Kể cả những ánh mắt vừa tắt ngấm kia.
Bộ não thật sự đau khi không được nhìn thấy
Đến đây bạn có quyền cãi tôi, và bạn nên cãi: "Nhưng con người là sinh vật xã hội cơ mà. Cần người khác đâu phải bệnh." Đúng. Khoa học đứng hẳn về phía bạn ở điểm này.
Giáo sư John Cacioppo, người khai sinh ngành khoa học thần kinh xã hội, đã chứng minh rằng não xử lý cú bị loại trừ khỏi bầy gần giống cách nó xử lý đau thể xác. Trong công trình tổng quan thần kinh học đầu tiên được bình duyệt về sự cô đơn, nhóm của ông kết luận thẳng:
"Sự nhận thức về cô lập xã hội (cô đơn) tác động lên não bộ và hành vi, và là một yếu tố nguy cơ cho bệnh tật cùng tử vong trên diện rộng." — Stephanie Cacioppo, John Capitanio & John Cacioppo, Psychological Bulletin (2014) [4]
Cô đơn kéo dài làm đổi cả cấu trúc lẫn chức năng của não, và xét về mức nguy hại cho sức khỏe thì nó ngang ngửa hút thuốc hay béo phì [4]. Nghiên cứu dài nhất lịch sử về đời người trưởng thành, Harvard Study of Adult Development theo dõi suốt hơn 80 năm, cũng chốt lại điều tương tự: chất lượng các mối quan hệ mới là thứ dự báo mạnh nhất cho hạnh phúc và sức khỏe, mạnh hơn cả tiền hay danh vọng [7].
Vậy mâu thuẫn nằm ở đâu? Nó gói trong đúng một chữ. Robert Waldinger, người dẫn dắt nghiên cứu Harvard, phân biệt rất tinh: thứ chữa lành con người là mối quan hệ hai chiều thật, nơi bạn được nhìn thấy đúng như con người bạn là, chứ không phải một màn trình diễn để gặt lấy cái gật đầu [7]. Có một dạng cô đơn còn xót hơn cô đơn ngoài đảo hoang: cô đơn ngay giữa một đám đông đang yêu bạn, vì họ chỉ yêu mỗi cái mặt nạ bạn đeo cho họ xem.
Nói cách khác, bạn không sai khi cần người khác. Bạn chỉ lạc đường khi cần họ phê chuẩn thay vì để họ thật sự thấy mình. Và khoảng cách giữa hai điều đó rộng bằng cả một đời người.
Cái duy nhất không ai cạy được khỏi tay bạn
Vậy còn sót lại gì khi mọi ánh mắt cùng tắt? Câu trả lời sâu nhất, tôi để dành cho người đã trả cái giá đắt nhất để moi nó ra.
Viktor Frankl, nhà thần kinh học người Áo, sống sót qua bốn trại tập trung Quốc xã. Ở đó người ta bị lột sạch: tên thay bằng số, tóc cạo trụi, quần áo, gia đình, tương lai, tất cả. Mọi ánh mắt từng phản chiếu họ đều đã biến mất hoặc đã chết. Đó gần như chính xác là kịch bản trong câu hỏi của bạn, chỉ tàn nhẫn hơn bội phần. Vậy mà từ tận đáy địa ngục ấy, Frankl đào ra được dòng này: người ta có thể bị tước đoạt mọi thứ, chỉ trừ một điều, cái tự do cuối cùng của con người là chọn lấy thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chọn lấy con đường riêng của mình [6].
Frankl quan sát thấy một điều lặng người: những kẻ sống sót không phải những kẻ khỏe nhất, mà là những kẻ còn neo được vào một ý nghĩa nào đó vượt khỏi bản thân, một người để đi gặp lại, một việc dang dở để hoàn thành [6]. Ông gọi động lực cốt lõi của con người là ý chí tìm nghĩa. Căn tính bền vững không treo lủng lẳng trên ánh mắt người khác; nó cắm rễ vào điều bạn thấy đáng sống vì chính nó, kể cả lúc tuyệt không ai nhìn.
Carl Rogers, từ một góc khác, gọi đích đến này là unconditional self-regard, khả năng tự chấp nhận mình mà chẳng cần ai gật đầu cho phép [5]. Còn nhà nghiên cứu Brené Brown nhắc ta một điều tỉnh táo: nó không phải món có sẵn từ lúc sinh, mà là việc phải làm lại mỗi ngày. Bà viết rằng cảm giác thuộc về của ta không bao giờ lớn hơn nổi mức ta tự chấp nhận chính mình.
Vài viên sỏi để bạn tự ném xuống
Tôi đã hứa không trả lời thay bạn, và tôi giữ lời. Nhưng tôi để lại đây vài viên sỏi, mỗi viên do một người đã đào sâu hơn ta mài ra. Bạn tự chọn ném viên nào xuống cái giếng của mình:
- Winnicott thì thầm: cái biến mất khi mọi người ra đi có khi chỉ là tấm gương, chứ không phải bạn. Thử hỏi xem đời này bạn đã từng được sống ở ngoài gương lần nào chưa.
- Maté chỉ tay vào ngực bạn: lần đầu bạn bỏ rơi chính mình không phải vì hèn, mà vì lúc đó đó là cách duy nhất để được yêu. Giờ thì cái giá ấy đã quá đắt chưa?
- Fromm và Sartre dúi vào tay bạn một con dao cùn: cứ thử rạch một mục tiêu, một thói quen, một "sở thích" ra xem, nó có chảy máu thật hay chỉ là hàng nhập khẩu xã hội đội lốt.
- Cacioppo và Waldinger kéo áo bạn lại: đừng nhầm đường. Đáp án không phải trốn lên đảo hoang. Đáp án là đổi được phê chuẩn lấy được thấy thật.
- Frankl thắp giùm bạn ngọn nến cuối: tìm cho ra một điều bạn thấy đáng sống vì nó, kể cả khi không một ai chứng kiến. Đó là phần của bạn mà ngay đến trại tập trung cũng không cạy nổi.
Một lời dặn dịu lại, vì khúc vừa rồi nặng. Nếu khi đọc những dòng này, bạn thấy mặt đất dưới chân mình sụt thật sự, một cái rỗng sâu đến mức không còn muốn tồn tại nữa, thì đó không phải lúc tự xoay xở một mình trong đầu. Hãy nói ra với một người bạn tin, hoặc tìm tới một nhà trị liệu tâm lý. Cái True Self mà Winnicott nhắc đến đôi khi cần một gương mặt người an toàn ở bên thì mới dám ló ra lần đầu. Đi tìm tấm gương lành đó không phải là yếu đuối. Đó chính là bước đầu tiên của việc tồn tại thật.
Bạn sẽ không tan biến theo họ đâu. Nhưng để biết chắc điều đó, bạn phải dám ngồi xuống đối diện con người còn ở lại khi tất cả đã rời đi, con người mà có lẽ bạn đã lẩn tránh gần như suốt cả đời.
Về tác giả
DonQuaan viết cho những người đang đứng chênh vênh ở rìa một câu hỏi lớn về chính mình. Cách làm ở đây luôn là đào tới tận gốc rễ của vấn đề con người, không dừng ở lời an ủi ngoài da: soi một nỗi đau từ nhiều phía cùng lúc, tâm lý học, triết học, khoa học thần kinh, rồi trả lại cho bạn quyền tự rút ra câu trả lời của riêng mình. Không phán xử, không kê thuốc ngủ tinh thần, chỉ thắp đèn rồi đi cùng bạn xuống tầng sâu.
Nguồn tham khảo
[1] Winnicott, D.W. "Ego Distortion in Terms of True and False Self". In: The Maturational Processes and the Facilitating Environment: Studies in the Theory of Emotional Development, pp. 140–152. International Universities Press / Karnac Books (viết 1960, xuất bản 1965). https://academic.oup.com/book/1192/chapter/140028848
[2] Sartre, Jean-Paul. Being and Nothingness (L'Être et le Néant). Gallimard, Paris, 1943; bản tiếng Anh: Philosophical Library, 1956. Mục từ: Stanford Encyclopedia of Philosophy. https://plato.stanford.edu/entries/sartre/
[3] Fromm, Erich. Escape from Freedom. Farrar & Rinehart, New York, 1941. https://www.panarchy.org/fromm/escapefreedom.html
[4] Cacioppo, S., Capitanio, J.P., & Cacioppo, J.T. "Toward a Neurology of Loneliness". Psychological Bulletin, 140(6), 1464–1504 (2014). doi: 10.1037/a0037618. PMID: 25222636. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25222636/
[5] Rogers, Carl R. "The Necessary and Sufficient Conditions of Therapeutic Personality Change". Journal of Consulting Psychology, 21(2), 95–103 (1957). https://www.simplypsychology.org/carl-rogers.html
[6] Frankl, Viktor E. Man's Search for Meaning (Ein Psychologe erlebt das Konzentrationslager). Beacon Press, Boston (xuất bản lần đầu 1946 bằng tiếng Đức; bản tiếng Anh 1959). https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC8763215/
[7] Waldinger, Robert J. The Good Life: Lessons from the World's Longest Scientific Study of Happiness. Harvard Study of Adult Development. Simon & Schuster, 2023; Harvard Gazette, 2023. https://news.harvard.edu/gazette/story/2023/02/work-out-daily-ok-but-how-socially-fit-are-you/
[8] Maté, Gabor. The Myth of Normal: Trauma, Illness, and Healing in a Toxic Culture. Avery / Penguin Random House, 2022. https://www.goodreads.com/quotes/11438753-just-as-i-have-named-authenticity-and-attachment-as-two
