Giải mã
Khi người tôi yêu rời đi, phần con người chết theo họ là phần nào
Khi người tôi yêu rời đi, phần con người chết theo họ là phần nào
Có buổi sáng nào đó bạn tỉnh dậy, tay vươn sang nửa giường bên kia trước cả khi não kịp nhớ ở đó không còn ai. Ấm trà bạn pha vẫn theo thói quen hai cốc. Một tiếng xe máy ngoài ngõ nghe giống tiếng xe người ấy, tim nhảy một nhịp rồi rơi xuống. Người đó đã chết, hoặc đã đi. Mà điều lạ nhất không phải là họ biến mất. Lạ nhất là cái cảm giác rằng một phần của chính bạn cũng biến mất theo, để lại trong lồng ngực một khoảng trống có hình dạng rất rõ: hình dạng của người kia.
Câu hỏi bạn đang ôm không phải "làm sao để hết đau". Bạn hỏi sâu hơn. Phần con người tôi vừa chết theo họ là phần nào. Và tại sao tôi lại để cả một mảng bản thân nằm gọn trong tay một người duy nhất?
Tôi sẽ không trả lời thẳng. Nhưng tôi cùng bạn soi cái khoảng trống ấy từ vài góc đèn, để bạn tự thấy thứ nằm trong đó.
Cái đau ấy là đau thật, không phải bạn yếu đuối
Trước khi nói gì thêm, cần đập một lời nói dối mà người đời hay nhét vào tay người đang mất mát: rằng "đau lòng" chỉ là cách nói văn vẻ, rằng bạn nên "mạnh mẽ lên".
Nhà thần kinh học Naomi Eisenberger đưa người ta vào máy quét não trong lúc họ bị từ chối, bị bỏ rơi. Nỗi đau xã hội kích hoạt đúng những vùng não xử lý đau thể xác: vỏ não vành trước phần lưng và thùy đảo trước. Thậm chí biến thể gen thụ thể mu-opioid, cái quyết định bạn chịu đau giỏi hay dở, liên kết cả hai loại đau với nhau [2]. Khi bạn nói "tim như bị ai bóp nghẹt", bạn không nói ẩn dụ. Não đang xử lý mất mát bằng chính mạch thần kinh nó dùng khi bạn gãy xương.
Vì sao tiến hóa lại tàn nhẫn thế? Vì với loài người, bị tách khỏi bầy đàn từng đồng nghĩa với cái chết. Cô đơn, theo John Cacioppo, là một tín hiệu báo động sinh tồn, mạnh đến mức nó làm tăng huyết áp, kéo lùi miễn dịch, và đổi cả cách biểu hiện gene trong tế bào bạch cầu [7]. Cơ thể bạn đang phản ứng với việc mất người yêu y như tổ tiên phản ứng khi bị bỏ lại một mình giữa rừng đêm.
Vậy nên bạn không yếu. Bạn đang đau một nỗi đau mà cơ thể được lập trình để coi là đe dọa tính mạng. Đó là sự thật đầu tiên, và nó nên tháo cho bạn một phần gánh nặng tự trách.
Phần "chết theo" có một cái tên trong não bộ
Giờ đến phần khó hơn. Phần bạn vừa mất là gì?
Nhà tâm lý học Arthur Aron đặt tên cho một hiện tượng mà ai từng yêu sâu đều đã sống qua mà không biết: self-expansion, tự mở rộng bản thân. Khi yêu, ta không chỉ "thích" người kia. Ta thật sự sáp nhập quan điểm, ký ức, nguồn lực, cả bản sắc của họ vào trong tự ngã mình, đến mức đo được bằng một thang gọi là IOS, "đưa người khác vào trong bản thân" [5]. Sở thích của họ thành sở thích bạn. Cách họ nhìn đời thành một phần lăng kính bạn dùng để nhìn. Bạn lớn ra, giàu lên, nhờ họ.
Rồi họ đi.
Mô hình của Aron chạm vào điều mà mọi lời an ủi sáo rỗng bỏ qua: khi người đó rời đi, cái phần bản thân được dệt từ sự hòa nhập ấy tan biến theo họ [5]. Bạn không tưởng tượng ra cảm giác mất mình. Bạn đang mất một mảnh tự ngã có thật, một mảnh đã được khâu lại từ chính họ.
Khoa học thần kinh của đau buồn đào sâu thêm. Mary-Frances O'Connor mô tả tang tóc như một dạng học tập cưỡng bức. Não lưu hai loại ký ức cãi nhau. Ký ức ngữ nghĩa khăng khăng người ấy luôn tồn tại, luôn ở đó, một sự thật nền của thế giới. Ký ức giai đoạn thì biết rõ họ đã chết. Bộ não phải đau đớn xây lại từ đầu một mô hình thế giới không còn chứa người đó, và đó là lý do mất mát kéo dài đến thế [1]. Mỗi sáng bạn vươn tay sang nửa giường trống là một lần não bị bắt học lại bài học nó không muốn học.
Sâu hơn nữa, có những trường hợp não thẳng thừng từ chối học. Nghiên cứu của Zoe Donaldson và Katherine Shear cho thấy ở chứng Rối loạn đau buồn kéo dài, được chính thức đưa vào cẩm nang DSM-5-TR năm 2022, nhân accumbens, trung tâm tưởng thưởng, vẫn sáng rực mỗi lần nhìn ảnh người đã mất, như thể não đang thèm một liều thuốc [3]. Bạn không "chưa buông được". Về mặt sinh học, một phần não bạn bị nghiện người ấy, và triệu chứng cốt lõi của nó được gọi đúng tên là rối loạn bản sắc. Khoảng 7 đến 10% người mất người thân rơi vào trạng thái này [3]. Nếu sau nhiều tháng bạn thấy mình ở đó, đó không phải lỗi tính cách, mà là một tình trạng có tên và có cách chữa.
Tại sao tôi đặt cả một phần mình vào tay một người?
Đây là phần bạn hỏi mà ít ai dám nói thật. Tôi nói thật.
Trao một phần bản thân cho người mình yêu là chuyện thường, và đẹp. Nhưng có một lằn ranh, và phía bên kia lằn ranh ấy là chỗ bạn nên nhìn cho kỹ.
Nhà phân tâm học Erich Fromm vạch lằn ranh đó sắc như dao. Ông tách tình yêu thật, nơi hai con người toàn vẹn kết hợp, ra khỏi gắn kết cộng sinh, nơi một người trở nên phụ thuộc vào người kia để tồn tại.
"Nếu một người chỉ yêu một người khác và dửng dưng với tất cả những người còn lại, thì tình yêu của anh ta không phải tình yêu mà là một sự gắn kết cộng sinh, hay một dạng vị kỷ phóng đại."
— Erich Fromm, nhà tâm lý học xã hội kiêm triết gia nhân văn, trong The Art of Loving (1956) [9]
Lời này mất lòng, nhưng nó là lối ra. Fromm nói yêu đúng cách không làm mất mình. Chỉ yêu sai cách, biến người kia thành điều kiện tồn tại của mình, mới khiến cả tòa nhà sụp khi họ rút đi [9]. Nếu mất người ấy khiến bạn thấy không còn lý do để thở, thì cái đang sập không phải tình yêu, mà là một cấu trúc cộng sinh đã âm thầm thế chỗ tình yêu làm cột chống.
Mà ta khó tự trách mình về chuyện này. Nhà trị liệu lứa đôi Esther Perel chỉ ra rằng thời nay người ta quay sang một con người duy nhất để đòi thứ mà cả một ngôi làng từng mang lại: cảm giác có gốc rễ, có ý nghĩa, có sự liên tục. Tổ tiên bạn rải tự ngã của họ ra khắp một cộng đồng. Họ hàng, làng xóm, tín ngưỡng, nghề nghiệp, đất đai. Bạn thì được dạy phải tìm "một nửa", "tri kỷ", "người duy nhất". Bạn không tự nhiên dại dột khi dồn hết vào một người. Cả một nền văn hóa đã huấn luyện bạn làm thế.
Cái vỏ giả và sự thật trống rỗng
Có một góc đèn nữa, lạnh hơn, mà có khi lại là góc giải thoát nhất.
Nhà nhi khoa kiêm phân tâm học D. W. Winnicott mô tả một thứ ông gọi là False Self, cái tôi giả. Từ thuở bé, để được yêu, ta học cách kìm những xung động thật và dựng lên một phiên bản dễ thương, dễ chấp nhận. Lớn lên, người yêu của ta thường lại là người nuôi đúng cái vỏ giả đó. Họ biến mất, cái vỏ sụp xuống, để lộ ra True Self, cái tôi thật, bị bỏ quên lâu đến mức ta không còn nhận ra nó.
Đây mới là chỗ tinh tế. Cái cảm giác trống rỗng, vô nghĩa, phi thực mà bạn mang sau khi mất người ấy, Winnicott bảo nó có thể chính là lần đầu tiên bạn chạm vào con người thật của mình sau nhiều năm sống bằng cái vỏ. Theo ông, chỉ Cái Tôi Thật mới thấy mình có thật và mới sáng tạo được; sự tồn tại của một Cái Tôi Giả dẫn thẳng tới cảm giác phi thực và một nỗi vô nghĩa [10]. Khoảng trống ấy không hẳn là chỗ người kia để lại. Nó có thể là chính bạn, bản gốc, đang lộ ra dưới lớp sơn vừa bong.
Triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre gọi việc để người khác định nghĩa mình là một dạng mauvaise foi, tự dối lòng. Con người, theo ông, là pour-soi, cái-cho-mình, không bao giờ cố định, luôn phải tự chọn lại mình từng khoảnh khắc. Khi ta để "ánh nhìn" của người kia đông cứng ta thành một phiên bản chết, ta đã phản bội cái tự do nền của chính mình. Sartre nói ta "bị kết án phải tự do": không bao giờ chỉ đơn giản là con người ta đang là, mà luôn bị ngăn cách khỏi chính mình bởi cái khoảng không của việc phải vĩnh viễn chọn lại bản thân [8]. Người kia ra đi đã cướp mất một phiên bản của bạn. Nhưng họ không cướp được cái quyền, và cái gánh nặng, được chọn lại phiên bản tiếp theo.
Và đây là điều khó nuốt nhất. Paul Boelen, trong nghiên cứu trên 124 người mất người thân, tách ra hai thứ khác nhau cùng dự báo bạn sẽ gục bao lâu. Loss-centrality, khi mất mát thành trung tâm của toàn bộ bản sắc bạn, dự báo đau buồn kéo dài. Còn self-unclarity, sự mờ nhạt về chính mình, lại dự báo trầm cảm [4]. Nói cách khác: nguy hiểm không nằm ở chỗ bạn đã yêu sâu. Nguy hiểm nằm ở chỗ bạn để người ấy thành toàn bộ tấm bản đồ về mình, đến mức họ đi rồi bạn không còn biết mình là ai nếu thiếu họ.
Vài viên sỏi để bạn tự ném xuống nước
Tôi đã hứa không trả lời thẳng, và tôi giữ lời. Nhưng tôi để lại đây vài viên sỏi, mỗi viên từ một người đã đào sâu hơn tôi nhiều, để bạn tự ném và tự nghe tiếng vọng.
Aron đưa bạn viên thứ nhất. Phần đã chết là phần tự ngã mở rộng nhờ người kia. Nó có thật, nó đáng được khóc thương, và biết tên nó rồi thì bạn thôi tưởng mình phát điên [5].
Fromm đưa viên thứ hai, sắc hơn. Hãy hỏi xem bạn đã yêu họ, hay đã cần họ để tồn tại. Hai thứ đó nhìn giống nhau khi người ta còn bên cạnh, và lộ rõ khác nhau khi người ta đi [9].
Winnicott đưa viên thứ ba, ấm hơn. Cái khoảng trống đó có thể không phải mộ phần của người kia, mà là cánh cửa hé ra cái con người thật bạn đã bỏ quên [10].
Còn Viktor Frankl, người sống sót qua trại tập trung và mất gần như tất cả, đưa viên cuối cùng, viên dịu dàng nhất:
"Tình yêu vượt xa khỏi con người thể xác của người được yêu. Nó tìm thấy ý nghĩa sâu nhất nơi bản thể tinh thần của họ. Việc họ có thực sự hiện diện hay không, có còn sống hay không, bằng cách nào đó thôi còn là điều quan trọng."
— Viktor E. Frankl, nhà tâm thần học, người sáng lập Liệu pháp ý nghĩa, trong Man's Search for Meaning (1946)
Frankl không nói người chết vẫn còn. Ông nói cái phần bạn yêu, phần thật nhất, không nằm trong tay người kia để họ mang đi. Nó nằm trong khả năng yêu của chính bạn, và khả năng ấy không chết theo ai cả.
Phần con người chết theo họ là phần nào? Tôi không biết phần của bạn. Nhưng tôi biết cái phần biết yêu sâu đến thế vẫn còn nguyên trong bạn. Nó chỉ đang chờ bạn ngừng dồn hết vào một bàn tay, và bắt đầu rải ra. Cho bạn bè, cho công việc có nghĩa, cho con người thật vừa lộ diện, cho cả ngôi làng mà thời đại này quên dạy bạn cần đến.
Nghiên cứu kéo dài 85 năm của Đại học Harvard, theo dấu hơn 700 con người qua cả cuộc đời, kết lại một điều giản dị đến phát khóc: thứ dự báo bạn khỏe và hạnh phúc lúc về già không phải tiền bạc hay danh vọng, mà là chất lượng các mối quan hệ của bạn, số nhiều [6]. Robert Waldinger, giám đốc nghiên cứu, nói thẳng rằng cô đơn giết người, nó mạnh ngang hút thuốc hay nghiện rượu [6]. Lối thoát khỏi cái khoảng trống một-người không phải là kiếm một người khác để lấp đầy. Đó là dệt lại một mạng lưới.
Một điều cuối, nói rõ vì nó quan trọng. Nếu sau nhiều tháng bạn vẫn thấy mình kẹt cứng, ảnh người ấy vẫn làm mọi thứ khác mờ đi, ý nghĩ sống tiếp trở nên vô nghĩa, thì đó có thể là Rối loạn đau buồn kéo dài, và nó chữa được [3]. Hãy tìm một nhà trị liệu, hoặc ít nhất một người bạn thật sự tin tưởng, và nói ra. Trong những ngày tối nhất, đừng ở một mình lâu. Một viên sỏi, ném cùng một người khác, vẫn tạo được tiếng vọng.
Về tác giả
DonQuaan viết về những gốc rễ sâu nhất của vấn đề con người, nơi tâm lý học, khoa học thần kinh và triết học gặp nhau. Cách tiếp cận ở đây không phải xoa dịu mà là đào: lật từng lớp đất quanh nỗi đau cho đến khi chạm phải cái rễ thật, rồi để chính bạn quyết định nên cắt bỏ hay nuôi lại nó. Không phán xét, không ru ngủ, chỉ soi đèn vào chỗ bạn ngại nhìn nhất.
Nguồn tham khảo
[1] Mary-Frances O'Connor & Saren H. Seeley. "Grieving as a form of learning: Insights from neuroscience applied to grief and loss". Current Opinion in Psychology, Vol. 43, pp. 317–322. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/34520954/
[2] Naomi I. Eisenberger. "The neural bases of social pain: Evidence for shared representations with physical pain". Psychosomatic Medicine, 74(2), pp. 126–135. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3273616/
[3] Zoe R. Donaldson & M. Katherine Shear. "Neurobiology and treatment advances for prolonged grief disorder". Neuropsychopharmacology, Vol. 49, 2024. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC10700485/
[4] Paul A. Boelen. "Self-Identity After Bereavement: Reduced Self-Clarity and Loss-Centrality in Emotional Problems After the Death of a Loved One". Journal of Nervous and Mental Disease, Vol. 205, pp. 405–408. DOI: 10.1097/NMD.0000000000000660. https://www.researchgate.net/publication/318262917_Self-Identity_After_Bereavement_Reduced_Self-Clarity_and_Loss-Centrality_in_Emotional_Problems_After_the_Death_of_a_Loved_One
[5] Arthur Aron, Elaine N. Aron, et al. "Close relationships as including other in the self". Journal of Personality and Social Psychology, Vol. 60, pp. 241–253 (1991); cập nhật 2022. https://journals.sagepub.com/doi/abs/10.1177/02654075221110630
[6] Robert Waldinger & Marc Schulz (Harvard Study of Adult Development). "What Harvard's Study of Adult Development Reveals about Happiness / The Good Life". Harvard Gazette (2017); sách The Good Life (2023). https://news.harvard.edu/gazette/story/2017/04/over-nearly-80-years-harvard-study-has-been-showing-how-to-live-a-healthy-and-happy-life/
[7] John T. Cacioppo & William Patrick. Loneliness: Human Nature and the Need for Social Connection. W. W. Norton & Company, 2008. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC3874845/
[8] Jean-Paul Sartre. "Jean-Paul Sartre — Stanford Encyclopedia of Philosophy". Stanford Encyclopedia of Philosophy (SEP). https://plato.stanford.edu/entries/sartre/
[9] Erich Fromm. The Art of Loving. Harper & Row, 1956. https://en.wikipedia.org/wiki/The_Art_of_Loving
[10] D. W. Winnicott. "Ego Distortion in Terms of True and False Self" (1960), trong The Maturational Processes and the Facilitating Environment (1965). https://en.wikipedia.org/wiki/True_self_and_false_self
